Skip to content Skip to sidebar Skip to footer
Câu chuyện về vắc-xin

Không như các phương pháp y tế khác, vắc-xin không chỉ đem lại lợi ích cho từng cá nhân mà còn cho cả cộng đồng. Vắc-xin (chủ yếu) là các chất tiêm vào cơ thể được sử dụng trên toàn cầu để phòng chống các loại bệnh có thể truyền nhiễm. Mặc dù ban đầu chúng được tạo ra để chống lại các loại virus, chẳng hạn như vắc-xin đậu mùa, các loại vắc-xin hiện hành không chỉ bảo vệ chúng ta khỏi các loại virus như cúm, sởi và rubella, mà còn phòng ngừa các chứng nhiễm khuẩn, chẳng hạn như ho gà, viêm màng não hay bạch hầu. Vắc-xin không chỉ dành cho trẻ em. Bạn không bao giờ quá tuổi để được miễn dịch cả: Có nhiều loại vắc-xin hiện đại dành cho người trưởng thành và người cao tuổi. Chúng bao gồm các loại vắc-xin zona và vắc-xin phòng một số dạng viêm phổi nhất định. Đó không phải những loại bệnh mà bạn muốn chịu đựng, ngay cả khi đã từng vượt qua nó.

Loại vắc-xin đầu tiên được tạo ra bằng cách sử dụng một lượng rất nhỏ virus (đậu mùa) để tạo ra sự nhiễm bệnh ở mức rất nhẹ. Người được tiêm vắc-xin này sẽ có thể tăng cường kháng thể từ sự phơi nhiễm siêu nhỏ này, sau đó tránh được sự nhiễm bệnh nếu bị phơi nhiễm virus thực sự. Khi khoa học về vắc-xin phát triển, vắc-xin không cần chứa virus (hay vi khuẩn) hoàn chỉnh để người nhận có thể tăng cường kháng thể (trở nên miễn dịch) với loại bệnh tương ứng nữa. Phần lớn các loại vắc-xin ngày nay chỉ cần chứa một phần nhỏ của virus hay vi khuẩn, tức là một đoạn ADN hay protein, để người nhận có thể hình thành kháng thể. Điểm lợi của sự thay đổi trong khoa học về vắc-xin này là ngày càng có ít tác dụng phụ. Điểm trừ là một vài loại vắc-xin đã bị yếu đi đôi chút, đồng nghĩa với việc cần tiêm thêm các mũi nhắc lại và một số người có thể không tạo ra đủ kháng thể từ loại vắc-xin yếu hơn này, dù cho nó an toàn hơn.

Loại vắc-xin đầu tiên được tạo ra bằng cách sử dụng một lượng rất nhỏ virus (đậu mùa) để tạo ra sự nhiễm bệnh ở mức rất nhẹ

Đúng vậy – một số người có thể đã tiêm đủ mọi loại vắc-xin được khuyến cáo nhưng vẫn không miễn dịch với các bệnh mà chúng phòng ngừa. Những người này có hệ thống miễn dịch bình thường, nhưng kháng thể của họ không tăng lên khi được tiêm vắc-xin. Đây là lúc miễn dịch cộng đồng phát huy tác dụng. Nếu phần lớn cộng đồng nhận được vắc-xin, những cá nhân không có miễn dịch sẽ được bảo vệ phần nào từ việc cả cộng đồng đã miễn dịch. Nếu cộng đồng (khoảng 90-95% dân số) không được bảo vệ, căn bệnh sẽ bắt đầu len lỏi. Chúng ta đã được chứng kiến những đợt bùng phát bệnh trên toàn cầu xảy ra ngày càng nhiều trong 10 – 20 năm trở lại đây, chủ yếu do hai nguyên nhân: vắc-xin an toàn hơn nhưng yếu đi, và cộng đồng yếu đi.

Việc tiêm chủng không chỉ là một quyết định cá nhân hay thậm chí là dành cho gia đình của riêng ai. Vì miễn dịch cộng đồng, thứ tôi sẽ giải thích chi tiết hơn ở phần sau của chương này, nên việc được miễn dịch có tầm ảnh hưởng đến những người xung quanh vượt xa những gì bạn có thể tưởng tượng. Nó không chỉ bảo vệ mỗi bản thân bạn, con cái và gia đình thân yêu của bạn, mà còn bảo vệ những người xung quanh bạn – hàng xóm, bạn bè và những người trong cùng cộng đồng dù bạn có biết họ hay không. Bạn chọn lái xe khi đang tỉnh táo để tự cứu lấy bản thân mình, nhưng cũng đồng thời cứu các tài xế khác trên đường. Bạn lựa chọn (hay bị ép) không hút thuốc lá ở những nơi quy định để không ảnh hưởng đến người khác và đe dọa mạng sống của họ.

Một thứ cũng trở nên phổ biến hơn là việc trì hoãn tiêm chủng, hay quan niệm đã trở thành trào lưu về việc tự đặt ra lịch tiêm chủng của mình, dựa trên một điều hết sức sai lệch rằng điều này sẽ nhẹ nhàng hơn đối với một đứa trẻ. Một ý tưởng khác thậm chí còn sai lệch hơn là việc tin rằng những đứa trẻ bị mắc các chứng bệnh khác như có tiền sử sinh non, hen suyễn hay dị ứng thì sẽ có nguy cơ bị phản ứng lại mũi tiêm chủng cao hơn. Trên thực tế, điều ngược lại mới đúng. Những đứa trẻ dễ ốm cần được tiêm đúng lịch hơn là những đứa khỏe mạnh. Một đứa bé bị hen suyễn có nguy cơ hình thành các biến chứng như viêm phổi từ một chứng bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, như cúm hay phế cầu khuẩn, cao hơn nhiều so với một đứa bé có lá phổi khỏe mạnh.

Vắc-xin không hề độc hại với cơ thể hay là gánh nặng với hệ miễn dịch hơn những thứ con người vẫn thường phơi nhiễm trong cuộc sống hằng ngày. Mặc dù một vài người cho rằng việc tiêm vắc-xin đưa tạp chất vào cơ thể thuần khiết của một đứa trẻ, đó là một quan niệm hoàn toàn vô căn cứ. Trẻ em phơi nhiễm với hàng tỷ loại vi khuẩn và virus mỗi ngày – ngay từ khi mới ra đời. Việc sinh sản theo đường âm đạo khiến đứa bé bị phơi nhiễm hàng triệu loại vi khuẩn, từ cả đường sinh đẻ lẫn đường ruột, trước khi đứa bé cất tiếng khóc chào đời. Một nụ hôn ẩn chứa 80 triệu loại vi khuẩn. Sữa mẹ có chứa hàng trăm loại vi khuẩn – không chỉ từ làn da người mẹ mà còn từ bản thân các mô ở vú. Lượng virus có trong vắc-xin nhỏ hơn rất nhiều so với những gì người ta bị phơi nhiễm sau một ngày tham gia lớp học Mẹ và Bé. Và chúng cũng chẳng đủ khả năng để áp đảo hệ miễn dịch của một người khỏe mạnh. Vắc-xin đậu mùa mà thế hệ tôi được tiêm gây khó khăn cho hệ miễn dịch hơn nhiều so với tất cả các loại vắc-xin mà trẻ em ngày nay được tiêm trong vòng hai năm. Luận điệu phản bác về tá dược thường mang tính phóng đại hoặc vô căn cứ. Ví dụ, thủy ngân là một loại độc tố thần kinh nổi tiếng và là một trong tá dược bị đả kích nhiều nhất trong cuộc chiến chống vắc-xin.

Sự phơi nhiễm thủy ngân ở các công nhân nhà máy vải giải thích được lý do tại sao nhân vật Mad Hatter (thợ làm mũ bị điên) của nhà văn Lewis Carroll lại “điên” đến vậy. Câu thành ngữ điên như thợ làm mũ có từ Thế kỷ 18 và 19, khi những công nhân trong nhà máy sản xuất mũ bị phơi nhiễm một lượng lớn thủy ngân, thứ được sử dụng để làm cứng vải, dẫn đến chứng loạn thần và suy giảm trí tuệ. Vào những năm 1950 và 1960, Vịnh Minamata ở Nhật Bản bị ô nhiễm thủy ngân công nghiệp, dẫn đến một lượng lớn thủy ngân trong cá ở địa phương. Trẻ mới sinh và trẻ em ăn phải những con cá này thường bị liệt não, chậm phát triển, động kinh, mù và điếc. Loại thủy ngân gây ra các chứng rối loạn trung khu thần kinh ở cả người lớn lẫn trẻ nhỏ là methyl thủy ngân. Chất bảo quản thimerosal, thứ có chứa ethyl thủy ngân, được cho là thủ phạm gây ra bệnh thợ làm mũ điên. Mặc dù không có sự liên hệ nào giữa sự phơi nhiễm ethyl thủy ngân và các chứng rối loạn trung khu thần kinh, các mối lo ngại cho sức khỏe cộng đồng về bất kỳ dạng phơi nhiễm thủy ngân nào đã tăng cao tới mức người ta phải ngừng sử dụng thimerosal để bảo quản vắc-xin. Nhưng nếu thimerosal bị loại bỏ khỏi gần như tất cả các loại vắc-xin vào năm 2002, và tỷ lệ chẩn đoán mắc rối loạn phổ tự kỷ tiếp tục tăng cao, làm sao người ta có thể tiếp tục liên hệ thimerosal với chứng tự kỷ nữa? Thimerosal đúng là một chất có nguồn gốc từ thủy ngân, có tác dụng khử trùng, chống nấm và được dùng như một chất bảo quản. Một vài loại vắc-xin cúm vẫn có chứa thimerosal (0,025 mg/liều), nhưng các loại vắc-xin cúm chứa chất bảo quản hiện rất hiếm gặp và không còn được sản xuất nữa. Hãy xem xét
những thứ có chứa nhiều methyl thủy ngân độc hại hơn nhiều mà bạn có thể bắt gặp:

  • Cá ngừ (158 g): 0,115 mg methyl thủy ngân
  • Sữa mẹ (1 lít): 0,015 mg methyl thủy ngân

(Bất kỳ loại cá nào mà một người phụ nữ đang mang thai từng ăn đều sẽ có một chút thủy ngân, thứ đi vào máu của cô và sau đó là tới thai nhi. Sau khi sinh con, thủy ngân trong chế độ ăn của người mẹ cũng sẽ xuất hiện trong sữa mẹ, mặc dù nồng độ thấp hơn trong máu.)

Nhôm và formaldehyde trong vắc-xin cũng đã được đưa lên mục tin chính, gây sợ hãi cho quá nhiều người bởi vô số lập luận sai lệch.

Nhôm và formaldehyde trong vắc-xin cũng đã được đưa lên mục tin chính, gây sợ hãi cho quá nhiều người bởi vô số lập luận sai lệch. Nồng độ các chất này trong vắc-xin không là gì so với những gì chúng ta bị phơi nhiễm hằng ngày. Nhôm là thứ kim loại phổ biến nhất trong tự nhiên. Nó tồn tại trong không khí cũng như đồ ăn thức uống của chúng ta. Trẻ sơ sinh hấp thụ nhiều nhôm từ sữa mẹ hay sữa công thức hơn là từ vắc-xin. Phần lớn lượng nhôm đi vào cơ thể bạn đều mau chóng bị triệt tiêu. Formaldehyde cũng hiện diện ở khắp nơi trong môi trường sống của chúng ta và được sản sinh với số lượng nhỏ bởi phần lớn các sinh vật sống qua một phần của quá trình trao đổi chất thông thường. Một quả lê có chứa lượng formaldehyde cao gấp 60 lần so với vắc-xin. Những người trưởng thành né tránh vắc-xin cúm và các bậc cha mẹ tổ chức các bữa tiệc thủy đậu với kẹo mút đã khiến cho cuộc tranh cãi bất tận về vắc-xin thậm chí còn trở nên phức tạp hơn nữa. Mặc dù nhiều người trong số chúng ta có thể không bao giờ bị cúm, nhưng nó không phải là một chứng bệnh dễ khỏi mà không để lại những hậu quả dài hạn và nghiêm trọng cho sức khỏe. Đây là sự thực dù cho bạn trẻ hay già. Mỗi khi đến mùa cúm, những người vốn đang khỏe mạnh có thể bị tử vong bởi các biến chứng của căn bệnh này. Đối tượng tử vong bao gồm trẻ em, người già và thậm chí cả những người trưởng thành vốn đang khỏe mạnh với hệ miễn dịch mạnh mẽ. Hệ miễn dịch mạnh mẽ lại thường chính là thứ kết thúc cuộc đời họ. Nhiều thanh niên khỏe mạnh có hệ miễn dịch chứa rất nhiều một loại chất giúp chống lại virus. Thông thường, đây là một điều tốt, nhưng khi mắc phải một căn bệnh tệ hại như cúm, loại chất này không chỉ chống lại virus mà còn chống lại chính bản thân họ khi tấn công vào mô phổi. Điều này khiến cho hệ hô hấp ngừng hoạt động hoàn toàn và có thể gây chết người. Cơ thể bị bất ngờ và đáp trả bằng cách phản ứng quá mức với virus. Điều này có nghĩa nếu tử vong bởi bệnh cúm, về cơ bản là bạn đã chết bởi những tổn thương mà hệ miễn dịch của chính bạn gây ra cho hai lá phổi.

Mặc dù ngày nay rất nhiều người trưởng thành có thể mắc thủy đậu mà không gặp vấn đề gì, chúng ta vẫn không nên coi nhẹ căn bệnh này. Thủy đậu có nguy cơ cao dẫn đến viêm phổi và thậm chí là cả viêm màng não, một bệnh thần kinh chết người. Vắc-xin thủy đậu, thứ cùng lắm chỉ gây ra một ca thủy đậu nhẹ (mặc dù xác suất cũng rất nhỏ), an toàn hơn nhiều so với chứng bệnh này.

(Trích từ cuốn sách Hoang mang – Chỉ dẫn của bác sĩ để hiểu rõ đúng sai – Bs. Nina Shapiro & Kristin Loberg)

Leave a comment

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.